• slider

Một số khái niệm ngôn ngữ cơ bản tiếng Hàn

Chắc hẳn nhiều bạn đã khá quen với Hàn ngữ nhưng bạn đã thật sự hiểu và phân tích rõ nhưng điều cần có trong ngữ pháp tiếng Hàn chưa?
Bài viết dưới đây sẽ khái quát cho các bạn một số điều cơ bản trong ngôn ngữ này, trong đó sẽ giúp bạn hệ thống lại kiến thức một cách cô đọng và dễ hiểu nhất, ngoài việc học các thì cơ bản trong ngữ pháp tiếng Hàn thì tìm hiểu các hình thức cơ bản cũng là một phần quan trọng để bạn có thể thành thạo cũng như nâng cao trau dồi thêm kỹ năng giao tiếp vì thế hãy tập làm quen chúng ngay từ khi bắt đầu để sau này việc học trở nên dễ dàng và dễ tiếp thu hơn nhé.
\n\n
 
\n\n

Tiếng Hàn và sự chắp dính

\n\n
 
\n\n
Tiếng Hàn thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính, với những khái niệm những thuật ngữ tương đối mới mẻ với người học là người Việt.
\n\n
 
\n\n
Để nhập môn tiếng Hàn, khi bắt đầu học về ngữ pháp tiếng Hàn, cần nắm được một số đặc điểm sau:
\n\n
 
\n\n
a) Trong tiếng Hàn có phụ tố là những hình vị hạn chế, không có khả năng vận dụng độc lập, được gắn vào căn tố hay từ để thay đổi ý nghĩa từ vựng của căn tố hay từ đó (phụ tố phái sinh), hoặc chắp dính vào một từ, một thân từ nào đó để biểu thị các chức năng cú pháp hay chuyển đổi phạm trù ngữ pháp cho từ hay thân từ mà nó kết hợp.
\n 
\n\n
tài liệu học tiếng hàn cơ bản
Học ngữ pháp tiếng Hàn
\n\n
 
\n\n
b) Hiện tượng chắp dính thể hiện rõ ràng trong quá trình biến đổi dạng thức của từ  (활용: conjugation). Các phụ tố ngữ pháp, có khả năng thay thế kết hợp vào phần thân từ mang ý nghĩa từ vựng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp cho từ, khác với việc thể hiện ra bằng trật tự sắp xếp từ hay hư từ ở tiếng Việt. Về thực chất, chắp dính là hiện tượng nối các hình vị hư (empty morpheme - hình vị không có ý nghĩa từ vựng rõ ràng), vào hình vị thực để thực hiện phát ngôn.

\n>> Xem thêm: Học tiếng Hàn giao tiếp như thế nào?
\n\n
 
\n\n
Có thể hình dung việc biến đổi dạng thức của từ trong tiếng Hàn thành một hệ thống như sau:
\n\n
 
\n\n
- Chắp dính thay đổi các hình vị hư (ngữ pháp) biểu thị cách (조사 – tiểu từ) vào hình vị thực (từ vựng) là các thể từ (tên gọi chung cho danh từ, đại từ và số từ, những từ loại thường xuất hiện ở vị trí chủ ngữ và bổ ngữ trong câu), để biểu thị những mối quan hệ ngữ pháp trong câu của các từ này. Ví dụ như hình vị ngữ pháp 이 chắp dính vào sau danh từ 사람 (người) sẽ biểu thị 사람 (người) đảm nhận vai trò chủ ngữ trong câu, nhưng thay 이 bằng hình vị ngữ pháp 을 thì 을 sẽ biểu thị 사람 (người) làm thành phần bổ ngữ của câu.
\n\n
 
\n\n
Cách (case) ở đây như vậy, có thể hiểu là hình thái phạm trù của danh từ, biểu thị mối quan hệ ngữ pháp của nói với các từ khác trong cụm từ và câu.
\n\n
 
\n\n
- Chắp dính thay đổi các hình vị hư (ngữ pháp) biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp (어미 - đuôi từ: biểu thị ý nghĩa thời, thể, liên kết câu, kết thúc câu, kính ngữ...) vào hình vị thực (từ vựng) là các vị từ (tên gọi chung cho động từ, tính từ những từ loại thường xuất hiện ở vị trí vị ngữ trong câu). Ví dụ: Chắp dính thay thế các hình vị ngữ pháp đuôi từ -습니다, -습니까, -었다, -겠다, -(으)면, -어서 ... vào hình vị từ vựng 읽- (đọc), ta sẽ có các ý nghĩa ngữ pháp sau cho từ:
\n\n
 
\n\n
읽습니다. : trần thuật (đọc) 읽겠다. : tương lai (sẽ đọc)
\n\n
 
\n\n
읽습니까? : nghi vấn (đọc à) 읽으면... : liên kết điều kiện (nếu đọc)
\n\n
 
\n\n
읽었다. : quá khứ (đã đọc) 읽어서... : liên kết nguyên nhân (vì đọc)
\n 
\n\n
tài liệu học tiếng hàn cơ bản
\n\n\n\n
 
\n\n
c) Trong tiếng Hàn trật tự của các thành phần câu đảo ngược so với tiếng Việt. Cụ thể là thường thì thành phần bổ nghĩa cho một thành phần khác luôn được đặt trước các thành phần được bổ nghĩa như:
\n\n
 
\n\n
bổ ngữ trước vị ngữ:
\n\n
 
\n\n
밥을 먹는다
\n\n
 
\n\n
cơm ăn
\n\n
 
\n\n
trạng ngữ (trạng từ) trước vị ngữ:
\n\n
 
\n\n
밥을 맛있게 먹는다
\n\n
 
\n\n
cơm ngon ăn
\n\n
 
\n\n
định ngữ trước danh từ(danh ngữ):
\n\n
 
\n\n
이 책(sách này), này sách
\n\n
 
\n\n
어제 빌려 준 책(sách hôm qua đã cho mượn) ...
\n\n
 
\n\n
hôm qua cho mượn sách ...
\n\n
 
\n\n
d) Một phạm trù ngữ pháp khác là kính ngữ, phạm trù ngữ pháp khá đặc biệt, khó có thể thấy rõ trong tiếng Việt, tiếng Anh... Trong tiếng Hàn ngữ pháp kính ngữ hình thành theo hệ thống với những quy tắc nhất định. Cụ thể nhất, và có thể thấy rõ nhất là phép kính ngữ đối với các đối tượng tham gia giao tiếp thể hiện bằng chắp dính đuôi từ (hình vị ngữ pháp) vào vị trí cuối của phát ngôn (đuôi câu). Các hình vị ngữ pháp - đuôi từ này theo đó được gọi là đuôi từ kết thúc câu, định dạng nên loại phát ngôn cho câu đồng thời biểu thị thái độ cung kính, khiêm nhường hay không của người nói đối với đối tượng người nghe.
\n\n
 
\n\n
e) Trong đối thoại trực tiếp giữa ngôi thứ nhất, người nói với ngôi thứ hai người nghe, thông thường chủ ngữ được rút gọn, do các bên đối tượng tham gia giao tiếp đã tự ngầm hiểu được chủ ngữ của câu. Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào chủ ngữ cũng có thể được lược bỏ.
\n 
\n\n
Nguồn: Internet
\n

Hình ảnh du học

http://hoctienghanonline.edu.vn/
http://hoctienghanonline.edu.vn/
Học tiếng Hàn online